Trách nhiệm khi không thực hiện nghĩa vụ chuyển giao tài sản trong giao dịch dân sự
Pháp luật tôn trọng sự thỏa thuận của các bên khi tiến hành giao dịch dân sự. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi cho bên bị vi phạm khi bên còn lại không thực hiện đúng nghĩa vụ, pháp luật cũng đưa ra một số biện pháp nhằm ràng buộc trách nhiệm cho bên vi phạm. Sau đây là một số quy định của pháp luật về trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ chuyển giao tài sản.
* Trách nhiệm khi không thực hiện nghĩa vụ chuyển giao tài sản:
Tại Điều 356 của Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định về “Trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ giao vật” như sau:
– Đối với trường hợp không thực hiện nghĩa vụ giao vật đặc định thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm giao đúng vật đặc định đó (bởi đó là vật không thể thay thế), nếu như vật đặc định đó không còn hoặc bị mất mát hư hỏng thì sẽ phải thanh toán một khoản tiền tương đương với giá trị của vật;
– Đối với trường hợp không thực hiện nghĩa vụ giao vật cùng loại thì bên bị vi phạm sẽ có quyền yêu cầu bên vi phạm phải thực hiện việc giao vật cùng loại khác (bởi đây là tài sản có thể thay thế vì những tài sản này có những đặc điểm tương tự nhau), nếu như không có vật cùng loại khác thay thế thì bên vi phạm sẽ phải thanh toán một khoản tiền tương đương với giá trị của vật;
Vậy “Vật đặc định” và “Vật cùng loại” là gì?
– Tại Điều 113 Bộ luật dân sự 2015 định nghĩa:
+ Vật cùng loại là những vật có cùng hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng và xác định được bằng những đơn vị đo lường. Vật cùng loại có cùng chất lượng có thể thay thế cho nhau (ví dụ như xăng dầu cùng loại, gạo và xi măng cùng loại của một nhà máy sản xuất…)
+ Vật đặc định là vật phân biệt được với các vật khác bằng những đặc điểm riêng về ký hiệu, hình dáng, màu sắc, chất liệu, đặc tính, vị trí. Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật đặc định thì phải giao đúng vật đó. (ví dụ như đánh dấu đồ vật bằng những ký hiệu riêng biệt, thực phẩm được để trong những dụng cụ riêng hoặc được đặt tên…)
Có thể thể thấy, nhằm mục đích tạo thuận lợi cho việc xác định trách nhiệm của các chủ thể, pháp luật đã có những quy định riêng về trách nhiệm dân sự do không thực hiện được nghĩa vụ giao tài sản.
Lưu ý: Trong trường hợp không thực hiện nghĩa vụ giao tài sản và gây thiệt hại thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm bồi thường thiệt hại theo đúng quy định của pháp luật.
Như vậy có thể thấy, chế định về trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ chuyển giao tài sản được phân loại dựa trên đặc tính của tài sản, bao gồm vật đặc định vào vật cùng loại. Do mỗi loại tài sản có những đặc tính riêng biệt vì thế mà pháp luật cũng quy định nghĩa vụ do không thực hiện việc chuyển giao tài sản đối với mỗi loại lá khác nhau.
* Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi không thực hiện nghĩa vụ: có 4 căn cứ
(1) Thứ nhất, có thiệt hại xảy ra.
Thiệt hại xảy ra là tiền đề của trách nhiệm bồi thường thiệt hại bởi mục đích của việc áp dụng trách nhiệm là khôi phục tình trạng tài sản của người bị thiệt hại, do đó không có thiệt hại thì không đặt ra vấn đề bồi thường cho dù có đầy đủ các điều kiện khác. Thiệt hại là những tổn thất thực tế được tính thành tiền do việc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của các cá nhân, tổ chức.
(2) Thứ hai, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật.
Hành vi gây thiệt hại thông thường và hiện dưới dạng hành động. Chủ thể đã thực hiện hành vi mà đáng ra không được thực hiện hành vi đó. Hành vi gây thiệt hại có thể là hành vi hợp pháp nếu người thực hiện hành vi theo nghĩa vụ mà pháp luật hoặc nghề nghiệp buộc họ phải thực hiện hành vi đó. Ví dụ như nhân viên phòng cháy chữa cháy có thể phá hủy nhà dễ cháy xung quanh đám cháy, bác sĩ cắt bỏ các bộ phận hoặc làm phẫu thuật khác … trong trường hợp này thì người gây thiệt hại không phải bồi thường.
(3) Thứ ba, lỗi của người gây thiệt hại.
Về nguyên tắc thì một người bị áp dụng một chế tài pháp lý thì họ phải có hành vi vi phạm pháp luật do lỗi cô Ý hoặc vô ý. Tuy nhiên trong quan hệ pháp luật dân sự có trường hợp ngoại lệ là người không có hành vi trái pháp luật và không có lỗi vẫn phải chịu trách nhiệm dân sự.
(4) Thứ tư, có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật.
Thiệt hại xảy ra là kết quả của hành vi trái pháp luật hay ngược lại hành vi đạo đức là nguyên nhân của thiệt hại xảy ra. Điều này được quy định cụ thể tại Điều 584 của pháp luật dân sự năm 2015. Tuy nhiên xác định mối tương quan nhân quả là vấn đề vô cùng phức tạp. Phạm trù nguyên nhân và kết quả là các phạm trù trong triết học. Do đó cần phải xem xét và đánh giá tất cả sự kiện liên quan một cách cẩn thận và khách quan cũng như toàn diện nhất. Từ đó mới có thể rút ra được kết luận chính xác về trách nhiệm của người gây ra thiệt hại.
* Lưu ý khi xem xét trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ theo Bộ luật Dân sự năm 2015:
Thứ nhất, về nghĩa vụ ngăn chặn, hạn chế thiệt hại theo Điều 362 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Điều 362 này quy định rằng, bên có quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để thiệt hại không xảy ra hoặc hạn chế thiệt hại cho mình. Quy định mới này buộc bên có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại phải áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để hạn chế thiệt hại có thể gây ra cho mình. Trong trường hợp người bị thiệt hại chậm trễ trong việc áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để giảm thiểu thiệt hại cho mình thì người gây thiệt hại có quyền yêu cầu giảm mức bồi thường tương ứng với mức thiệt hại mà lẽ ra người bị thiệt hại có thể hạn chế được.
Thứ hai, về bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị vi phạm có lỗi theo Điều 363 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Điều 363 này quy định rằng, trường hợp vi phạm nghĩa vụ và có thiệt hại là do một phần lỗi của bên có quyền thì bên có nghĩa vụ chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình. Quy định mới trên là chế tài xử lý trách nhiệm dân sự đối với trường hợp không thực hiện đúng nghĩa vụ và thiệt hại gây ra là do một phần lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại có quyền yêu cầu giảm mức bồi thường tùy theo mức độ lỗi của người bị thiệt hại. Trong trường hợp bên vi phạm chứng minh được việc không thực hiện đúng nghĩa vụ là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị vi phạm thì bên vi phạm không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc luật có quy định khác.