Đăng bởi: Luật sư Hứa Thị Thảo

Kết hôn giả là gì? Kết hôn giả để đi lao động nước ngoài có phạm tội không?

Kết hôn là một việc hết sức thiêng liêng của nam và nữ khi đến tuổi kết hôn. Thủ tục đăng ký kết hôn rất đơn giản nên nhiều người đã lợi dụng những sơ hở đó nhằm trục lợi cá nhân, đặc biệt là hành vi kết hôn giả. Vậy kết hôn giả là gì? Việc kết hôn giả để đi nước ngoài bị xử lý như thế nào?

* Kết hôn giả là gì?

– Tại khoản 5 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.”

– Kết hôn về bản chất là xác lập quan hệ vợ chồng với mục đích dựng xây gia đình, đó là điều thiêng liêng và trân quý của mỗi cá nhân. Hành vi kết hôn giả tạo là hành vi vi phạm pháp luật, lợi dụng việc kết hôn để đạt những mục đích khác để trục lợi cá nhân ngoài việc xác lập mối quan hệ gia đình. Và pháp luật Việt Nam cũng quy định rất rõ các trường hợp cấm trong Luật hôn nhân và gia đình để bảo vệ chế độ hôn nhân gia đình đúng nghĩa như sau:

– Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo

– Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn

– Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ

– Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng

– Yêu sách của cải trong kết hôn

– Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn

– Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính

– Bạo lực gia đình

– Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi

Định nghĩa về kết hôn giả tạo đã được nhà nước đặc biệt lưu ý và chuyển hóa thành những quy định cụ thể. Tại khoản 11 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Kết hôn giả tạo là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình.”

Như vậy, kết hôn giả tạo được xem là một hành vi vi phạm pháp luật và bị cấm thực hiện.

* Vậy việc kết hôn giả nhằm mục đích để đi nước ngoài có phạm tội không?

– Việc kết hôn giả là hành vi vi phạm pháp luật. Như vậy, việc kết hôn không dựa trên tình cảm mà hình thành từ sự giả tạo nhằm mục đích định cư nước ngoài là hành vi bị cấm và sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật. Cụ thể việc xử phạt hành vi kết hôn giả để đi nước ngoài được quy định như sau:

Căn cứ tại điểm d Khoản 2 Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng trường hợp lợi dụng việc kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Ngoài ra, biện pháp khắc phục hậu quả là buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm (quy định tại Khoản 3 Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP).

Trong trường hợp đối với cán bộ, công chức thực hiện hành vi kết hôn giả đi nước ngoài sẽ bị xử phạt như sau: 

– Áp dụng hình thức kỷ luật khiển trách đối với cán bộ, công chức có hành vi vi phạm lần đầu, gây hậu quả ít nghiêm trọng trong trường hợp Vi phạm quy định của pháp luật về: phòng, chống bạo lực gia đình; dân số, hôn nhân và gia đình; bình đẳng giới; an sinh xã hội; quy định khác của pháp luật liên quan đến cán bộ, công chức. (Khoản 9 Điều 8 Nghị định 112/2020/NĐ-CP)

– Áp dụng hình thức kỷ luật cảnh cáo:

Căn cứ tại Khoản 2 Điều 9 Nghị định 112/2020/NĐ-CP quy định nếu đã bị kỷ luật khiển trách hoặc vi phạm lần đầu, gây hậu quả nghiêm trọng

– Áp dụng hình thức hạ bậc lương:

+ Đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý: căn cứ tại Điều 10 Nghị định 112/2020/NĐ-CP nếu vi phạm khi đã bị phạt cảnh cáo, hoặc hành vi vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng

+ Đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý: căn cứ tại Điều 11 Nghị định 112/2020/NĐ-CP nếu vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng

Trong trường hợp đối với viên chức thực hiện hành vi kết hôn giả đi nước ngoài sẽ bị xử phạt như sau: 

– Áp dụng hình thức khiển trách đối với viên chức trong trường hợp vi phạm quy định của pháp luật về: phòng, chống bạo lực gia đình; dân số, hôn nhân và gia đình; bình đẳng giới; an sinh xã hội; quy định khác của pháp luật liên quan đến viên chức (Khoản 9 Điều 16 Nghị định 112/2020/NĐ-CP).

– Áp dụng hình thức cảnh cáo: nếu đã bị khiển trách hoặc vi phạm lần đầu, gây hậu quả nghiêm trọng (khoản 1, khoản 2 Điều 17 Nghị định 112/2020/NĐ-CP)

– Áp dụng hình thức cách chức: khi vi phạm lần đầu, gây hậu quả rất nghiêm trọng (khoản 2 Điều 18 Nghị định 112/2020/NĐ-CP)

– Áp dụng hình thức buộc thôi việc: nếu vi phạm lần đầu, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng (khoản 2 Điều 19 Nghị định 112/2020/NĐ-CP)

Như vậy, hiện nay với hành vi kết hôn giả tạo để đi nước ngoài mới ở mức xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng hình thức xử lý kỷ luật nếu chủ thể thực hiện hành vi là công chức, cán bộ; viên chức. Còn Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017 chưa điều chỉnh tội liên quan đến việc kết hôn giả đi nước ngoài. Do vậy, việc kết hôn giả đi nước ngoài không được coi là có tội.

* Quy định về việc xử lý hành vi kết hôn trái pháp luật:

Căn cứ tại Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định việc xử lý khi có hành vi kết hôn trái pháp luật như sau:

– Xử lý việc kết hôn trái pháp luật được Tòa án thực hiện theo quy định tại Luật hôn nhân và gia đình và pháp luật về tố tụng dân sự

– Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình đồng thời hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm các bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình

– Quyết định của Tòa án về việc hủy kết hôn trái pháp luật hoặc công nhận quan hệ hôn nhân phải được gửi cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn để ghi vào sổ hộ tịch; hai bên kết hôn trái pháp luật; cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự

– Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn

* Ai có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật?

Người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật được quy định tại Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, bao gồm:

– Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền tự mình yêu cầu hoặc đề nghị cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình

– Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại các điểm a, c và d khoản 1 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình:

+ Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật

+ Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình

+ Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em

+ Hội liên hiệp phụ nữ

– Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện việc kết hôn trái pháp luật thì có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.

* Do đó, việc kết hôn giả để nhằm mục đích đi nước ngoài không phải là một hành vi phạm tội để xử lý hình sự nhưng nó có thể bị xử phạt hành chính. Giả dối luôn là việc làm không đúng, đặc biệt là giả kết hôn – một điều hết sức thiêng liêng của nam và nữ thì thật không nên. Chính vì thế, dù bất cứ lý do gì cũng không nên kết hôn giả, điều đó thể hiện sự thiếu tôn trọng hôn nhân, pháp luật của nhà nước và thể hiện sự thiếu văn minh của chính bản thân mình.

Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn

Nguyễn Minh Chánh - Cộng Sự


Luôn có mặt khi bạn cần!

Giám đốc điều hành
Thạc sĩ - Luật Sư

Bà Hứa Thị Thảo

Chức vụ: Phụ trách chuyên môn
Điện thoại: 0947 111 012
Email: luatminhchanh@gmail.com
Luật sư thuộc Đoàn Luật sư Tp Hồ Chí Minh.

Liên hệ ngay