Hành vi mua bán tiền giả bị xử lý như thế nào?
Hiện nay, việc mua bán tiền giả đang ngày càng trở nên phổ biến hơn. Thậm chí, trên các trang mạng xã hội đã xuất hiện nhiều thông tin quảng cáo, rao bán tiền giả với nhiều mệnh giá khác nhau, với hình thức rao bán công khai va ngày một đa dạng. Những hành vi này đã làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Vậy hành vi mua bán tiền giả sẽ bị xử phạt như thế nào?
* Tiền giả là gì?
– Tiền giả được định nghĩa tại khoản 1 Điều 3 Thông tư 28/2013/TT-NHNN do Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 05/12/2013 quy định về xử lý tiền giả, tiền nghi giả trong ngành ngân hàng. Cụ thể tại khoản 1 Điều 3, “Tiền giả là những loại tiền làm giống như tiền Việt Nam nhưng không phải do Ngân hàng Nhà nước tổ chức in, đúc, phát hành.” Ngoài ra, trên thị trường còn xuất hiện tiền giả loại mới là loại tiền giả chưa được Ngân hàng Nhà nước hoặc Bộ Công an thông báo bằng văn bản.
– Theo Điều 17 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 quy định: “Ngân hàng Nhà nước là cơ quan duy nhất phát hành tiền giấy, tiền kim loại của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”
Do đó, ta cũng có thể hiểu tiền giả là loại tiền không phải do Nhà nước phát hành. Nó được tạo ra bởi các tổ chức, cá nhân với mục đích trục lợi.
– Về hình thức: tiền giả thường giống 90 – 95% tiền thật, do đó rất khó phân biệt. Nếu không biết cách nhận dạng thì sẽ dễ dàng bị lừa.
Hành vi mua bán tiền giả là một hành vi bị cấm ở Việt Nam và các nước trên thế giới. Bởi, khi tiền giả dễ dàng được tiêu thụ thì số tiền trên thị trường sẽ tăng cao, nhà nước khó kiểm soát được lượng tiền trên thị trường và dẫn đến lạm phát. Ngoài ra, việc tiêu thụ tiền giả sẽ dần làm mất đi vai trò của Nhà nước trong một quốc gia. Khi đồng tiền mất giá, con người không cần đi làm nữa, từ đó kìm hãm sự phát triển kinh tế.
* Hành vi mua bán, tiêu thụ tiền giả bị xử phạt như thế nào?
(1) Trách nhiệm hành chính:
– Người có hành vi mua bán, tiêu thụ tiền giả có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
Đồng thời, người phạm tội còn có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
(2) Trách nhiệm hình sự:
Tùy theo mức độ vi phạm mà mức xử phạt hình sự đối với tội danh mua bán tiền giả này cũng khác nhau, cụ thể:
– Người nào làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
– Người phạm tội trong trường hợp tiền giả có trị giá tương ứng từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.
– Người phạm tội trong trường hợp tiền giả có trị giá tương ứng từ 50.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
– Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.
* Hành vi vô ý sử dụng tiền giả có vi phạm pháp luật không?
Hành vi vi phạm trong luật hình sự để được cấu thành tội phạm thì một trong các yếu tố chính đó chính là lỗi cố ý hoặc vô ý. Theo đó, lỗi cố ý được quy định tại Điều 10 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 trong những trường hợp sau:
-Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;
– Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Lỗi vô ý được quy định tại Điều 11 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 như sau:
-Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được;
-Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.
Như vậy, cho dù cố ý hay vô ý thì người phạm tội vẫn có lỗi. Do đó, hành vi vô ý sử dụng tiền giả nếu như có chứng cứ chứng minh được người thực hiện không hề có lỗi trong việc sử dụng thì người đó có thể không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
* Vậy làm thế nào để phân biệt được giữa tiền thật và tiền giả:
Để tránh rủi ro do nhận phải tiền giả, cần nắm rõ các đặc điểm bảo an của đồng tiền và có thói quen kiểm tra đồng tiền khi giao dịch. Dưới đây là một số cách kiểm tra nhanh bằng tay hoặc mắt thường để phân biệt tiền thật, tiền giả:
(1) Kiểm tra chất liệu polymer in tiền:
Đồng tiền thật được in trên chất liệu polymer, có độ đàn hồi và độ bền cao. Vì vậy, bạn có thể kiểm tra độ đàn hồi bằng cách nắm gọn tờ tiền trong lòng bàn tay và khi mở ra, tờ tiền sẽ đàn hồi về trạng thái ban đầu như trước khi nắm; kiểm tra độ bền bằng cách kéo, xé nhẹ ở cạnh (mép) tờ tiền (lưu ý không kéo, xé đồng tiền ở vị trí đã bị rách) sẽ khó rách, khó bai giãn. Tiền giả chủ yếu được in trên nilon nên không có độ đàn hồi đặc trưng và độ bền như tiền thật, khi nắm gọn tờ tiền trong lòng bàn tay và mở ra, sẽ không đàn hồi về trạng thái ban đầu như trước khi nắm; khi kéo, xé nhẹ ở cạnh (mép) tờ tiền sẽ dễ bị bai giãn hoặc rách.
(2) Soi tờ tiền trước nguồn sáng:
Khi soi tờ bạc trước nguồn sáng, đối với tiền thật sẽ phát hiện ra 3 đặc điểm đó là bóng chìm, dây bảo hiểm và hình định vị. Hình bóng chìm khi soi dưới đèn có thể nhìn thấy rõ từ hai mặt, được thể hiện bằng nhiều đường nét tinh xảo, sáng trắng. Đối với dây bảo hiểm khi soi dưới đèn, có thể nhìn thấy rõ từ hai mặt, chạy dọc tờ bạc, có cụm số mệnh giá và chữ “NHNNVN” (hoặc “VND” – mệnh giá 10.000 đồng) tinh xảo, sáng trắng. Ở mệnh giá 50.000 đồng, dây bảo hiểm có ngắt quãng, có cụm số “50.000” Khi soi tờ bạc dưới đèn, sẽ nhận thấy thêm 1 chi tiết đó là hình định vị. Với hình định vị, hình ảnh trên hai mặt phải khớp khít, tạo thành một hình ảnh hoàn chỉnh, các khe trắng đều nhau (nhìn thấy từ hai mặt). Ở tiền giả, hình bóng chìm không tinh xảo. Các chữ, số trên dây bảo hiểm không rõ ràng, không sắc nét; một số trường hợp không có yếu tố này. Hình định vị không khớp khít, các khe trắng không đều nhau.
(3) Vuốt nhẹ tờ bạc (Kiểm tra các yếu tố in lõm);
Đối với tiền thật, khi vuốt nhẹ ở chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh; Quốc huy; Mệnh giá bằng số và bằng chữ; Dòng chữ “CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM” (ở mặt trước tất cả các mệnh giá) sẽ thấy có độ nổi, nhám ráp của nét in. Trên các tờ bạc mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng, 100.000 đồng còn được tăng cường bảo đảm với yếu tố in lõm ở dòng chữ ” NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM” và phong cảnh trên tờ tiền. Ở tiền giả, vuốt nhẹ tay chỉ có cảm giác trơn lì, không nhám, ráp như ở tiền thật hoặc có cảm giác gợn tay do vết dập trên nền giấy, không phải do độ nổi của nét in.
(4) Nghiêng tờ bạc (Kiểm tra mực đổi màu, dải iriodin, hình ẩn nổi):
Ở tiền thật, khi chao nghiêng tờ bạc, bạn sẽ thấy mực đổi màu (OVI) chuyển từ vàng sang xanh lá cây, dải iriodin lấp lánh ánh kim. Khi đặt ngang tầm mắt, sẽ thấy rõ chữ “VN” ở mệnh giá 200.000 đồng, 10.000 đồng. Đối với các tờ bạc mệnh giá 50.000 đồng, 20.000 đồng sẽ thấy chữ “NH”. Ở tiền giả, có làm giả yếu tố OVI nhưng không đổi màu, hoặc có đổi màu nhưng không đúng màu như ở tiền thật; không có yếu tố IRIODIN hoặc có in giả dải màu vàng nhưng không lấp lánh như ở tiền thật.
(5) Kiểm tra các cửa sổ trong suốt (số mệnh giá dập nổi và yếu tố hình ẩn):
Đối với tiền thật, bạn có thể kiểm tra các ô cửa sổ lớn có số mệnh giá dập nổi (chi tiết nền nhựa trong suốt ở phía bên phải mặt trước tờ bạc), bạn sẽ thấy có số mệnh giá dập nổi tinh xảo. Cạnh đó, khi đưa mắt nhìn xuyên qua ô cửa sổ nhỏ có yêu tố hình ẩn (DOE) (Chi tiết nền nhựa trong suốt, ở phía trên bên trái mặt trước tờ bạc) dưới nguồn sáng đỏ như bóng đèn sợi đốt, ngọn lửa,… bạn sẽ có thể nhận thấy hình ẩn xung quanh nguồn sáng. Ở tiền giả, cụm số mệnh giá dập nổi trên cửa sổ lớn không tinh xảo như tiền thật, trong cửa sổ nhỏ không có yếu tố hỉnh ẩn.
(6) Dùng kính lúp, đèn cực tím (kiểm tra chữ in siêu nhỏ, các yếu tố phát quang):
Khi dùng kính lúp soi, đối với tiền thật, có thể tìm thấy mảng chữ in siêu nhỏ được tạo bởi các dòng chữ “NHNNVN” hoặc “VN” hoặc số có mệnh giá lặp đi lặp lại, nhìn thấy rõ dưới kính lúp. Khi dùng đèn cực tím, sẽ nhận thấy cụm số thể hiện mệnh giá in bằng mực không màu, chỉ nhận thấy được được khi soi dưới đèn cực tím. Ngoài ra, còn có số seri dọc màu đỏ phát quang màu vàng cam và seri ngang phát quang màu xanh lơ khi soi dưới đèn cực tím. Ở tiền giả, không có mảng chữ siêu nhỏ hoặc các dòng chữ, số không sắc nét, rất khó đọc. Không có mực không màu phát quang hoặc có làm giả nhưng phát quang yếu. Số seri không phát quang hoặc phát quang không giống như ở tiền thật
* Tóm lại, tiền giả và tiền thật rất khó phân biệt. Chính về thế, khi tiến hành mua bán, giao dịch bằng tiền mặt cần cảnh giác để tránh “tiền mất tật mang”