Cho người khác mượn xe gây tai nạn, chủ xe có phải chịu trách nhiệm
Trong thực tế cuộc sống, chúng ta vẫn thường cho bạn bè, người thân của mình mượn xe lúc cần thiết. Nếu mọi chuyện suôn sẻ thì không sao, còn nếu xảy ra vấn đề gì, chẳng hạn như bị cảnh sát giao thông phạt hoặc thậm chí là gây tai nạn giao thông thì bản thân chủ xe cũng phải chịu một phần trách nhiệm? Vậy nó bao gồm những gì và hậu quả pháp lý sẽ ra sao? Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu một số quy định của pháp luật về vấn đề “Trách nhiệm của chủ xe khi người mượn xe gây tai nạn” để hiểu rõ hơn nhé.
* Trong thực tế cuộc sống, chúng ta vẫn thường cho bạn bè, người thân của mình mượn xe lúc cần thiết. Nếu mọi chuyện suôn sẻ thì không sao, còn nếu xảy ra vấn đề gì, chẳng hạn như bị cảnh sát giao thông phạt hoặc thậm chí là gây tai nạn giao thông thì bản thân chủ xe cũng phải chịu một phần trách nhiệm? Vậy nó bao gồm những gì và hậu quả pháp lý sẽ ra sao? Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu một số quy định của pháp luật về vấn đề “Trách nhiệm của chủ xe khi người mượn xe gây tai nạn” để hiểu rõ hơn nhé.
* Khái niệm xe không chính chủ và sử dụng xe không chính chủ:
– Hiện nay, không có bất kỳ một quy định nào định nghĩa thế nào là xe không chính chủ. Tuy nhiên, tại điểm a khoản 4; điểm l khoản 7 Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định lỗi “không chính chủ” chính là việc chủ xe đã không làm thủ tục đăng ký sang tên tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi được mua; được cho hay được tặng.
Do đó, có thể hiểu rằng: việc sử dụng xe không chính chủ là sử dụng xe không phải mình đứng tên sở hữu bằng cách mượn xe của người khác, có thể là xe của cha, mẹ, người thân, bạn bè…
* Việc xử phạt đối với hành vi sử dụng xe không chính chủ
– Thực tế, việc xử phạt hành vi vi phạm không đăng ký xe để chuyển tên chủ xe trong giấy đăng ký xe này chỉ được tiến hành trong hai trường hợp bao gồm:
+ Xác minh, phát hiện hành vi vi phạm thông qua công tác điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông;
+ Xác minh, phát hiện hành vi vi phạm thông qua công tác đăng ký xe.
– Nghĩa là, nếu bạn muốn mượn xe người khác đi ra đường mà có hành vi vi phạm những quy định về an toàn giao thông đơn thuần, bạn sẽ không bị xử phạt với lỗi này. Câu chuyện nó sẽ khác, nếu như bạn gây ra tai nạn mà qua công tác điều tra, cơ quan có thẩm quyền xác minh được có hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe máy, ô tô thì người vi phạm sẽ bị xử phạt với lỗi này.
– Tương tự với việc, khi bạn thực hiện thủ tục đăng ký xe tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nếu bị phát hiện ra có hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe máy, ô tô thì bạn sẽ bị xử phạt.
(Quy định này được cụ thể hóa tại Khoản 10 Điều 80 Nghị định 100/2019/NĐ-CP)
* Trách nhiệm của chủ xe khi cho người khác mượn xe:
– Việc chủ xe cho người khác mượn xe của mình thông thường chỉ trong phạm vi người thân gia đình hoặc những người thân thiết, hoặc trường hợp cho người lạ mượn thì phải thông qua hợp đồng hoặc giấy mượn.
– Pháp luật cũng có quy định phương tiện giao thông là một nguồn nguy hiểm cao độ (Điều 601 Bộ luật dân sự 2015). Chủ sở hữu phương tiện giao thông khi sử dụng phải tuân thủ theo quy định của pháp luật. Do đó, khi quyết định cho ai mượn xe, chủ xe cần nhận biết được các tình huống có thể xảy ra khi cho người khác mượn xe của mình. Chẳng hạn như: Người mượn xe có đủ điều kiện lái xe hay không (có đủ tuổi lái xe hay không, có đảm bảo sức khỏe hay không, có giấy phép lái xe hay không…). Nếu cho người khác mượn xe mà không đủ những điều kiện trên, trong trường hợp xảy ra tai nạn thì người chủ xe cũng phải chịu một phần trách nhiệm.
– Trách nhiệm của chủ phương tiện, chủ xe khi cho mượn xe gây tai nạn được hiểu là sự ràng buộc đối với hành vi cho người khác mượn xe gây ra ra tai nạn. Chủ sở hữu xe, phương tiện khi cho người khác mượn phương tiện của mình rồi gây tai nạn giao thông có thể phải chịu các trách nhiệm sau đây:
+ Trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 264 Bộ luật Hình sự 2015
+ Trách nhiệm dân sự: Bồi thường thiệt hại.
* Cho người khác mượn xe gây tai nạn chết người, chủ xe có bị đi tù hay không?
– Nếu điều khiển giao thông gây tại nạn chết người thì hiển nhiên người điều khiển phương tiện giao thông sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Câu hỏi đặt ra là trường hợp người gây tai nạn giao thông không phải là chủ của phương tiện giao thông đó mà là mượn của người khác thì chủ xe có phải chịu phạt không?
– Trường hợp này có các hướng giải quyết như sau:
(1) Nếu người mượn xe gây tai nạn giao thông đảm bảo đủ điều kiện lái xe (theo quy định tại Điều 58 Luật giao thông đường bộ 2008), đảm bảo độ tuổi, sức khỏe (quy định tại Điều 60 của Luật giao thông đường bộ 2008) và có giấy phép lái xe phù hợp với loại xe được phép điều khiển do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp thì người chủ sở hữu phương tiện hợp pháp cho mượn xe không phải chịu xử phạt vi phạm.
(2) Nếu cho người không đủ tuổi, không đủ sức khỏe hoặc không có giấy phép lái xe mượn xe mà gây tai nạn chết người thì chủ xe phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 264 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 về Tội giao cho người chưa đủ điều kiện điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ.
+ Theo đó chủ xe có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc nếu hậu quả là làm chết từ 3 người trở lên thì có thể bị phạt tù đến 7 năm.
+ Việc xác định chủ xe có phải đi tù hay không khi cho người khác mượn xe mà gây tai nạn chết người thì phải phụ thuộc vào các yếu tố sau:
(1) Người mượn xe đủ điều kiện về giấy phép, độ tuổi, sức khỏe… để lái xe, nhưng khi mượn xe lại trong trạng thái tinh thành kích động mạnh hoặc đang say xỉn… dẫn đến hạn chế năng lực hành vi thì người chủ xe cũng vẫn phải có trách nhiệm trong trường hợp này;
(2) Có các hành vi cấu thành tội khác hay không: giả sử khi cho người khác mượn xe để thực hiện hành vi cướp tài sản, chủ xe có phải chịu trách nhiệm hay không còn tùy thuộc vào ý chí chủ quan của người chủ xe ngay tại thời điểm cho mượn.
Nếu chủ xe biết trước và vẫn cho người khác mượn xe để thực hiện hành vi cướp tài sản thì người chủ xe và người mượn xe có thể cùng bị truy tố về tội “cướp tài sản” theo quy định của BLHS.
Nếu chủ xe hoàn toàn không biết trước được người mượn xe sẽ thực hiện hành vi cướp tài sản thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Khi đó, người chủ xe là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự về tội cướp tài sản, được quy định tại Điều 54 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Do đó, chủ xe trước khi cho mượn xe phải thật sự hiểu rõ người mượn xe là ai (có đủ tuổi lái xe hay không, có đảm bảo sức khỏe không, có giấy phép lái xe hay không…) và họ mượn xe để thực hiện vào việc gì để đảm bảo an toàn cho bản thân cũng như tránh gây ra hậu quả đáng tiếc cho xã hội.