Chó nuôi cắn chết người, chủ nuôi có phải chịu trách nhiệm?
Chó là loài vật vô cùng thông minh và được nuôi vô cùng phổ biến ở Việt Nam. Phần trong các gia đình ở Việt Nam đều có nuôi chó, thậm chí nhiều bạn trẻ cũng nuôi chó cảnh và xem đó như là một niềm đam mê. Tuy nhiên, trong thực tế cuộc sống vẫn có nhiều trường hợp không may xảy ra do loài động vật này gây ra do sự bất cẩn và sự thiếu hiểu biết trong cách chăm sóc của chủ chó. Liên tiếp các vụ chó cắn người xảy ra trong vài năm gần đây, tệ hơn đã có trường hợp chó cắn chết người. Vậy trong trường hợp này trách nhiệm sẽ thuộc về ai và phải xử lý như thế nào
* Chó là loài vật vô cùng thông minh và được nuôi vô cùng phổ biến ở Việt Nam. Phần trong các gia đình ở Việt Nam đều có nuôi chó, thậm chí nhiều bạn trẻ cũng nuôi chó cảnh và xem đó như là một niềm đam mê. Tuy nhiên, trong thực tế cuộc sống vẫn có nhiều trường hợp không may xảy ra do loài động vật này gây ra do sự bất cẩn và sự thiếu hiểu biết trong cách chăm sóc của chủ chó. Liên tiếp các vụ chó cắn người xảy ra trong vài năm gần đây, tệ hơn đã có trường hợp chó cắn chết người. Cụ thể vào ngày 17-5 vừa qua có vụ chó Pit bull nặng hơn 40kg cắn chết cụ bà 82 tuổi ở Bình Dương. Vậy trong trường hợp này trách nhiệm sẽ thuộc về ai và phải xử lý như thế nào?
* Người nuôi chó thì nhiều nhưng không nhiều người biết cách chăm sóc chó một cách đúng cách, chỉ nuôi thả trong gia đình mà chưa có biện pháp phòng tránh như: tiêm vắc-xin phòng bệnh Dại cho chó; không đeo rọ mõm cho chó hoặc không có xích giữ chó khi mang chó đi dạo; khi có người lạ vào nhà phải xích chó lại…
Nhận thấy được những điều trên, pháp luật cũng đưa ra một số quy định nhằm xử phạt đối với người chủ có hành vi không đảm bảo an toàn khi nuôi vật nuôi như sau:
(1) Trách nhiệm hành chính:
– Đối với các hành vi
+ Không tiêm phòng vắc-xin phòng bệnh dại cho động vật bắt buộc phải tiêm phòng;
+ Không đeo rọ mõm cho chó hoặc không có xích giữ chó;
+ Không có người dắt chó khi đi ra nơi công cộng
Thì sẽ bị xử phạt từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng
(Theo quy định của Nghị định 04/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 90/2017/NĐ-CP ngày 31/7/2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú ý).
Do đó, trong trường hợp nuôi chó thì người chủ chó phải có trách nhiệm tiêm phòng và đảm bảo các biện pháp an toàn để chó không gây hại cho mọi người, nếu không thì sẽ bị phạt tiền từ 1 triệu đến 2 triệu đồng.
(2) Trách nhiệm dân sự:
Đối với trường hợp súc vật có hành vi gây thiệt hại đối với người khác thì:
+ Chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại do hành vi mà súc vật do mình nuôi gây ra
+ Người chiếm hữu, sử dụng của súc vật phải bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm hữu, sử dụng con chó đó
(Trừ trường hợp có thỏa thuận giữa chủ sở hữu; người chiếm hữu, người sử dụng và người bị thiệt hại)
+ Trường hợp người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm cho súc vật của mình gây thiệt hại cho người khác thì chủ sở hữu không phải bồi thường mà người thứ ba sẽ bồi thường; nếu cả chủ sở hữu và người thứ ba cùng có lỗi thì sẽ liên đới bồi thường.
+ Trường hợp mà súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật đó phải bồi thường. Khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, người sử dụng súc vật mà có lỗi trong việc để cho súc vật của mình bị chiếm hữu, bị sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường.
+ Trường hợp súc vật thả rông theo tập quán mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu phải bồi thường theo tập quán nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.
(Theo Điều 603 Bộ luật dân sự 2015 quy định về việc “Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra”)
* Trong trường hợp này chó cắn chết người thì người chủ phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do chó mình nuôi gây ra theo Điều 591 Bộ luật dân sự 2015.
Theo đó:
– Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
+ Thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại theo quy định tại Điểu 590 Bộ luật dân sự 2015;
+ Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
+ Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;
+ Các thiệt hại khác do pháp luật quy định.
– Ngoài ra, người chủ còn phải chịu một khoản tiền khác để bù đắp tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại (gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết), nếu không có những người này thì người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại hoặc người được người bị thiệt hại trực tiếp nuôi dưỡng sẽ được hưởng khoản tiền này.
Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần sẽ do các bên thỏa thuận; trường hợp không thỏa thuận được thì mức tối đa sẽ không quá 100 lần mức lương cơ sở do nhà nước quy định.
(3) Trách nhiệm hình sự:
– Chủ vật nuôi đã dẫn chó đi ra nơi công cộng, không tiêm vắc-xin phòng dại, không thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn như đeo rọ mõm, có xích khóa… dẫn đến việc chó cắn chết người. Nếu trong trường hợp chứng minh được người chủ nuôi chó không có ý định thả chó ra để cắn người với mong muốn làm cho người đó bị thương hoặc chết mà việc chó cắn chết người là ngoài mong muốn của chủ sở hữu, do sự bất cẩn, chủ quan của chủ vật nuôi thì người chủ sở hữu có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội vô ý làm chết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
+ Người chủ vật nuôi có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
+ Trường hợp nếu làm chết từ 02 người trở lên thì người chủ vật nuôi có thể chịu mức phạt cao nhất lên tới 10 năm tù.
– Còn trong trường hợp chủ vật nuôi cố ý thả chó ra với mong muốn xảy ra hậu quả chết người hoặc để gây thương tích cho người khác thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội giết người” (Điều 123 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017) hoặc “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” (Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017).
* Như vậy, trường hợp người chủ nuôi chó nhưng không thực hiện các quy định về tiêm vắc-xin, không đeo rọ mõm… dẫn đến hậu quả là chó cắn làm chết người thì có thể bị xử phạt hành chính, bồi thường thiệt hại cho gia đình người đã mất hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.